Thứ Ba, ngày 02 tháng 8 năm 2016

3 CÂU CHUYỆN SÂU SẮC CUỐI TUẦN

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Đào kim cương

  Happy reading & Having good thoughts các BCAs! Đào kim cương   +++++++ Câu chuyện 1: Trong cuộc sống, chúng ta khó tránh khỏi thất bại. Nếu có thể đứng lên từ thất bại, kiên trì theo đuổi mục tiêu, tương lai chắc chắn sẽ thành công. Nhưng kiên trì nói thì dễ nhưng thực hiện rất khó. Dưới đây là một số câu chuyện nhỏ chứa đựng đạo lý, mang đến những cảm nhận khác nhau. Có một người rất nghèo và khổ cực. Một người nhà giàu nhìn thấy đáng thương liền muốn giúp đỡ. Người giàu có đưa cho anh ta một con bò, chúc anh khai hoang tốt, đợi mùa xuân đến gieo hạt giống, mùa thu là có thể thoát nghèo rồi. Người nghèo cảm thấy hi vọng trong lòng, bắt đầu phấn đấu. Nhưng chỉ sau vài ngày, bò muốn ăn cỏ, người muốn ăn cơm, cuộc sống trở nên khó khăn hơn trước. Người nghèo bèn nghĩ thà rằng bán bò đi, mua mấy con dê. Trước tiên giết một con để ăn, còn lại để nuôi cho nó sinh con, đợi nó lớn lên rồi cầm đi bán. Như thế kiếm được nhiều tiền hơn. Người nghèo tiến hành theo kế hoạch. Sau khi ăn hết một con dê, những con dê còn lại rất chậm sinh con, cuộc sống lại gặp khó khăn. Thế là anh không nhịn được lại giết thịt một con. Người nghèo nghĩ: “Tiếp tục như vậy không được. Không bằng đem dê bán đi, mua thành gà. Gà đẻ trứng rất nhanh, trứng gà có thể lập tức bán được tiền, cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp.” Người nghèo lại thực hiện theo kế hoạch. Nhưng rồi thời gian trôi qua cũng không có thay đổi, gặp khó khăn, nhịn không được liền giết gà, cuối cùng chỉ còn lại một con. Lý tưởng của người nghèo hoàn toàn sụp đổ. Người nghèo thất vọng: “Làm giàu thật khó, thà đem con gà còn lại đi bán, mua một bình rượu uống cho no nê. Mọi việc không còn lo lắng.” Mùa xuân đến rất nhanh. Người giàu có hào hứng mang hạt giống cho người nghèo nhưng nhìn thấy người nghèo đang uống rượu với dưa muối, bò cũng không còn, trong nhà vẫn nghèo rớt mồng tơi như trước đây. Người giàu quay đi, người nghèo vẫn cứ tiếp tục. Rất nhiều người nghèo đã từng mơ ước, thậm chí có cơ hội và hành động nhưng họ không kiên trì đến cùng. Một nhà đầu tư nói bí quyết thành công của mình là: “Lúc không có tiền, cho dù khó khăn cũng nên tiết kiệm và đầu tư. Áp lực sẽ khiến bạn tìm được phương pháp kiếm tiền mới, giúp bạn trả hết nợ. Đó là một thói quen tốt.” Tính cách hình thành thói quen, thói quen quyết định thành công. Người càng sâu sắc: Càng trầm tĩnh đơn giản. Người càng nông cạn lạnh nhạt: Càng táo bạo bất an. Kẻ mạnh: Không phải là không có nước mắt mà là kìm nén nước mắt không rơi. Kẻ yếu: Không phải ở vẻ bề ngoài mà là ở tinh thần suy sụp. ++++++++++++++ Câu chuyện 2: Sư tử trông thấy một con chó điên liền nhanh chóng tránh mặt. Sư tử con nói: “Cha dám sống chết đánh nhau với hổ, cùng báo so tài. Sao lại tránh né một chó điên, mất mặt quá!” Sư tử hỏi: “Con thấy đánh thắng một chó điên vinh quang lắm sao?”. Sư tử con lắc đầu. “Lại để cho chó điên cắn cho thì có xui xẻo không?”. Sư tử con gật đầu. “Như vậy, chúng ta trêu trọc chó điên làm gì?” Người nào đó không xứng làm đối thủ của bạn, không muốn tranh luận với những người không có tố chất, chỉ cần mỉm cười rời xa họ, đừng để cho họ cắn bạn. Ngày nay, nếu như bạn vẫn còn phàn nàn, không cố gắng thì người khác sẽ thành công. Bạn không làm, người khác sẽ đến làm. Bạn không phát triển, không có ai sẽ chờ đợi bạn! ++++++ Câu chuyện 3: Có một con thiên lý mã trẻ tuổi, đang đợi Bá Nhạc đến phát hiện ra nó. Thương gia đến, nói: “Bạn sẵn lòng đi theo tôi không?” Ngựa lắc đầu nói: :”Tôi là thiên lý mã, sao có thể đi theo thương gia vận chuyển hàng hóa được?” Binh lính đến, nói: “Bạn có muốn đi theo tôi không?” Ngựa lắc đầu nói: “Tôi là thiên lý mã, một binh sĩ bình thường sao có thể phát huy hết khả năng của tôi?” Thợ săn đến, nói: “Bạn sẵn sàng đi theo tôi không?” Ngựa lắc đầu nói: “Tôi là thiên lý mã, sao có thể đi theo hầu thợ săn?” Ngày qua ngày, năm qua năm, con ngựa vẫn chưa tìm được cơ hội lý tưởng cho mình. Rồi một ngày, khâm sai đại thần phụng mệnh đến nhân gian tìm kiếm thiên lỹ mã. Thiên lý mã gặp được khâm sai đại thần, nói: “Tôi chính là thiên lý mã mà ông muốn tìm.” Khâm sai hỏi: “Bạn có thông thuộc đường đi trên đất nước chúng ta không?”, Ngựa lắc đầu. “Bạn đã từng ra trận, có kinh nghiệm tác chiến chưa?”, Ngựa lắc đầu Khâm sai lại hỏi: “Tôi có thể dùng bạn vào việc gì?” Ngựa trả lời: “Tôi có thể một ngày đi được một nghìn dặm, một đêm đi được 800 dặm” Khâm sai đại thần cho ngựa chạy thử một đoạn đường. Ngựa cố gắng hết sức chạy tiến lên phía trước, nhưng chỉ được vài bước nó đã thở hồng hộc, mồ hôi chảy đầm đìa. “Bạn già rồi, không dùng được!”, nói xong khâm sai liền bỏ đi. ++++ Các bài học: Hôm nay, những nỗ lực dường như bình thường của bạn đều là tích lũy cho tương lai. Mỗi một lần kinh nghiệm, một lần không vui, bị từ chối đều đặt nền móng cho thành công sau này. Không phải chờ đến lúc già, không chạy nổi nữa mới hối hận. Bằng cấp không có nghĩa là có năng lực, văn bằng không có nghĩa là có văn hóa, quá khứ huy hoàng chỉ là lịch sử để nhớ lại. Vì vậy, ngày hôm qua như thế nào không quan trọng, quan trọng là hôm nay ra sao, ngày mai sẽ thế nào! Trong cuộc sống chúng ta có thể gặp nhiều khó khăn, gian khổ nhưng chỉ cần cố gắng, kiên trì vượt qua thì nhất định sẽ có một tương lai tốt đẹp! (Nguồn: Bài của khách - trang Today thời báo)      

The post 3 CÂU CHUYỆN SÂU SẮC CUỐI TUẦN appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 7 năm 2016

TƯ DUY VỀ TIỀN BẠC

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Tư duy tiền bạc

"Kinh Thánh cũng khẳng định là “ người giàu vào thiên đường khó hơn con lạc đà đi lọt qua mũi kim”. Có thể nói là tôi không ưa tiền, nếu không phải là thù ghét… Tuy nhiên, tôi khám phá rất nhanh một điều: tất cả những gì hay những người tôi yêu thương đều “cần” và “yêu” tiền."

-TS. Alan Phan- Tư duy tiền bạc   ++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++ Tôi lớn lên trong một gia đình trung bình, không nhiều tiền bạc, nhưng có một tuổi thơ tương đối êm đềm dịu ngọt. Sài gòn những thập niên 50’s, 60’s trong các khu phố quanh vườn Tao Đàn là những chuỗi ngày của bướm hoa và chim chóc. Rồi 3 năm trên những đối thông vắng lạnh quanh Yersin Đà Lạt cũng là những hồi ức của nô đùa, khám phá đầy tiếng cười. Bạn bè chúng tôi chỉ có một món đồ chơi duy nhất là quả bóng cao su trúng được từ một giải thưởng ở trường. Tất cả đồ chơi còn lại đều do tài sáng tạo của chúng tôi bằng các vật dụng lượm lặt quanh nhà. Tôi hoa mắt khi dẫn con nhỏ lần đầu vào Toys”R”Us để hắn chọn quà. - Tư duy về tiền bạc Bước vào đại học, tôi say mê với những văn phẩm nghệ thuật mang mầu sắc đấu tranh xã hội và hiện sinh từ Kafka, Camus, Kierkegaard... Tôi có một thái độ rất thịnh hành ngày đó là coi thường những doanh gia (gọi là trọc phú) và tiền bạc (như thầy giảng, không có đồng tiền nào mà không dính đến tội ác). Rồi Kinh Thánh cũng khẳng định là “người giàu vào thiên đường khó hơn con lạc đà đi lọt qua mũi kim”. Có thể nói là tôi không ưa tiền, nếu không phải là thù ghét. Tuy nhiên, tôi khám phá rất nhanh một điều: tất cả những gì hay những người tôi yêu thương đều “cần” và “yêu” tiền. Một lần tôi bày tỏ hăng say với một cô bạn gái, ”có những thứ mà đồng tiền không mua được”. Cô cười, ”vậy là anh không biết shop (mua sắm)”. Tôi cũng cảm nhận là sau những lần thất bại trên thương trường, tôi vẫn được thỏai mái hơn khi còn chút tiền. Thật đúng như cô đào Zsa Zsa Gabor nói, “Khóc đâu cũng là khóc, nhưng tôi thích khóc trong chiếc xe Rolls Royce”. - Quyến rũ của tiền bạc Tôi bắt đầu đi vào một thái cực khác, có lẽ là “dark side” (phần đen) như truyện Star War. Tôi bắt đầu say đắm người vợ (tiền) mà mình đã không biết yêu khi cưới. Tôi yêu tiền như một đứa bé lần đầu bước vào tiệm kẹo. Trong các lớp tâm lý sơ đẳng, sách vở dạy rằng con người bị chi phối và thúc đẩy bởi bốn động lực chính: quyền lực, danh vọng, tiền bạc và “hóc môn” (hormones). Hóc môn là ăn, nhậu, sex và thuốc. Mỗi người một kiểu, người thích món này hơn món khác, người thích vài món, những anh chị mê cả bốn món thường vào tù rất sớm. Tôi thì chỉ thích tiền. Suốt thời trung niên, từ năm 30 tuổi đến gần đây, tôi thấy đồng tiền là tất cả. Nó cho tôi những tác phẩm tuyệt vời như chiếc xe Lamborghini vàng tôi mua tặng mình năm sinh nhật 33 tuổi; như chiếc đồng hồ Oris Artelier vợ tôi mua cho hai đứa (his and her) trong một phút ngẫu hứng tại Monte Carlo; như chiếc du thuyền Feretti tôi chia sở hữu (share ownership) với 3 người bạn khác ở Miami; như cái condo nhỏ bé dễ thương cạnh bờ biển Puerto Viejo của Costa Rica; như những bộ viết máy mang các tên huyền thọai như Mont Blanc, Cartier, Montegrappa, Visconti…tôi dã tốn công sưu tập suốt 25 năm. Đồng tiền cũng cho tôi những trải nghiệm khó quên như chuyến du hành lạ lùng vào Tây Tạng huyền bí vào năm 1979 (rất ít người được phép thăm); như chuyến leo núi ở Cerro Castor phía nam Argentina đầy mạo hiểm (súyt bị môt trận bão tuyết chôn vùi); như lần đi dã ngọai safari ở Kenya nóng bức với một người tình Rawandan đen hơn than đá. Tôi quên mất những mặt trái của đồng tiền để chỉ còn say đắm với lợi ích. Tôi cho rằng ba lợi ích lớn nhất của đồng tiền nhìn từ góc cạnh trí thức là tự do, thì giờ và nhân tính. Những người thực sự giàu ít khi phải làm những gì họ không muốn. Họ cũng không bị buộc phải sống ở một nơi nào, với những người họ không thích hay chịu đựng những áp đặt ngược đời. Họ cũng có nhiều thì giờ hơn để chăm chú vào trọng điểm công việc vì đã có nhiều nhân viên phụ làm các việc lặt vặt. Nhờ vậy, họ có thời gian để thưởng thức văn hóa nghệ thuật nhiều hơn. Nhờ đồng tiền, những người giàu có thường rộng luợng quyên tặng cho những nạn nhân kém may mắn của xã hội. Họ cũng không bị những mặc cảm thua kém chi phối, nên nhân cách họ thường cởi mở và dễ thích hợp. - Giới hạn của tiền bạc Nhưng thực tế thường phức tạp và nhiều thách thức hơn lý thuyết. Tôi tin rằng có rất nhiều người giàu đạt được những tự do, thì giờ và nhân cách do đồng tiền mang lại. Warren Buffett và Bill Gates là hai thí dụ điển hình. Tuy vậy, phần lớn những người giàu tôi quen biết, cũng như chính cái “tôi” đáng ghét lúc xưa, phải loay hoay trong cái bẫy của nghịch lý. Trước hết, hành xử hàng ngày cùa chúng tôi bị giới hạn vào trách nhiệm phải có với cổ đông, với nhân viên, với khách hàng, với quyền lợi và thương hiệu của doanh nghiệp, và với cả cộng đồng chung quanh. Chúng tôi không thể nói hay làm những gì có thể gây hại đến những đối tác này. Bản thân chúng tôi cũng không có quyền bị bệnh nữa. Tuy không như Steve Jobs đã làm cổ phiếu Apple giảm 8% khi tin ông bị ung thư loan truyền, tôi và ban quản lý cũng phải dấu chuyện tôi phải mổ tim (heart attack) vào năm 1999 để tránh ảnh hưởng xấu trên cổ phiếu của công ty Hartcourt bé xíu. Chúng tôi cũng bận rộn khủng khiếp khi giàu có. Với những báo cáo, tin tức, Emails và điện thọai thường xuyên, chúng tôi may mắn lắm mới có thì giờ nhàn rỗi để đọc hết một cuốn sách trên 500 trang. Những tiệc tùng lễ hội liên tiếp không cho chúng tôi thời gian để thư giãn với gia đình bạn bè. Bao nhiêu liên hệ thân tình sâu xa đã bị sự giàu có chia cắt. Rồi đến những họat động xã hội thiện nguyện. Dù rộng lượng, nhiều người trong chúng tôi cũng không muốn danh nghĩa hay tiền bạc bị lạm dụng cho những mục tiêu đen tối. Hơn nữa, khi mở lòng giúp với vài trăm dollars nghe thật dễ dàng; vấn đề trở nên phức tạp khi số tiền lên đến cả triệu dollar. Bộ phận kế tóan, thuế vụ, pháp lý và PR phải nhẩy vào để khán duyệt và chỉ dẫn. - Những phúc lộc không tiền Tôi vẫn yêu tiền. Dù nó mang đến hạnh phúc hay đau khổ, đồng tiền vẫn là người vợ, người tình và người bạn tuyệt vời. Nhưng tôi cũng không bao giờ quên những phúc lộc không cần có tiền, không cần mua hay thâu tóm. Chẳng hạn cuốn truyện The Catcher On The Rye và Dr. Zhivago tôi tình cờ đọc lại sau 40 năm, vào một buổi chiều đi lạc vào thư viện ở New Delhi. Tiếng cười trong trẻo của đứa con trai ở phòng cạnh bên khi hắn thì thầm với bạn gái qua điện thọai về chuyến đi chơi của hai cha con ở New York. Khuôn mặt rực rỡ của một người con gái tóc vàng trong một buổi sáng mùa thu qua công viên Luxembourg nhìn lá vàng. Tôi hiểu lời của Sartre rằng, ”Chúng ta nô lệ cho những gì mình sở hữu” (We are possessed by what we possess). Và tôi vẫn xin được nói với tiền như một bài nhạc tình nào đó của Trịnh Công Sơn,” Dù đến rồi đi, tôi cũng xin tạ ơn người, tạ ơn đời, tạ ơn ai… đã cho tôi còn những ngày ngồi mơ ước...” - TS. Alan Phan -

The post TƯ DUY VỀ TIỀN BẠC appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Thứ Bảy, ngày 09 tháng 7 năm 2016

XEM NGƯỜI MỸ DẠY CON VỀ TIỀN BẠC VÀ LÀM GIÀU

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Tiền bạc & dạy con

XEM NGƯỜI MỸ DẠY CON VỀ TIỀN BẠC VÀ LÀM GIÀU
(Bài của Khách)
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
"Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffet tin rằng những người con được thừa hưởng của cải quá lớn từ gia đình thường có khuynh hướng không làm gì cả. Ông cho rằng một xã hội sẽ không được hưởng lợi từ một giai cấp thượng lưu tạo dựng của cải nhờ thừa hưởng và một đất nước chỉ thịnh vượng khi xã hội được tạo dựng từ những người có tài thực sự, và người ta nhận được thù lao từ công sức lao động của chính mình."
Cuối tuần, GNA xin giới thiệu với BCAs một bài viết có giá trị tham khảo về cách người Mỹ dạy con làm giàu và tiền bạc để suy ngẫm và áp dụng.
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Tiền bạc & dạy con
Của cải không tốt bằng lao động, sự giàu có không tốt bằng việc tạo ra sự giàu có. Cả trong công việc và đời sống riêng tư hãy luôn ủng hộ các con chạy theo niềm đam mê của chính mình, cho dù công việc đó có mang lại nhiều tiền hay không.
Steven D. Hayworth, giám đốc điều hành của ngân hàng Gibraltar Private Bank and Trust, rất hạnh phúc khi nghe tin con gái mình sẽ làm việc trong một cửa hàng quần áo của phụ nữ trong kỳ nghỉ hè trước khi phải nhập học vào mùa thu.
Bản chất công việc không phải là điều làm Hayworth cảm thấy tự hào. Thay vào đó, ông muốn con của mình sẽ tìm thấy niềm vui từ lao động. Đặc biệt, Hayworth hy vọng cô con gái bé nhỏ sẽ học được cách “kết nối” giữa số tiền mà cô kiếm được bao nhiêu trong một ngày với cái mà cô dự định mua.
“Mẹ tôi - người có ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống và sự thành công trong sự nghiệp - đã trao cho tôi một trong những bài học cuộc sống quý báu mà tôi học được từ rất sớm là giá trị của một đồng USD”, Hayworth cho biết.
“Riêng đối với con trẻ được sinh ra tại các gia đình trung lưu và giàu có, họ sẽ ít biết được quan điểm về giá trị đồng tiền. Lái một chiếc xe hạng sang Range Rover trên đường cao tốc là chuyện dễ nhưng cái quan trọng là bạn phải biết được mất bao nhiều giờ làm việc chăm chỉ để có thể sỡ hữu chiếc xe đó”.
Nhất quan hệ, nhì tiền tệ. Giống như thế hệ giàu có thứ hai hay những cậu ấm cô chiêu, con gái của Hayworth sẽ không phải lo lắng nếu không thể tìm được một công việc. Cô có thể đã trải qua mùa hè bên bể bơi bởi cha mẹ cô hoàn toàn có thể lo học phí học đại học.
Nhưng thực tế, điều không chỉ khiến CEO của ngân hàng Bank and Trust lo lắng mà nhiều bậc phụ huynh giàu có khác cũng phải suy nghĩ là làm sao để con cái lao động kiếm tiền. Suy thoái kinh tế và thị trường việc làm đầy cạnh tranh khiến họ bắt buộc phải dạy cho con cái của mình về giá trị từ lao động. Họ lo lắng về điều đó, có vẻ còn hơn bất cứ những vấn đề trong công việc của mình.
Mối quan tâm chung nhất của tất cả các bậc phu huynh trên toàn cầu là như nhau: Làm thế nào để con trẻ hiểu được giá trị của đồng tiền từ lao động?
Quy tắc trong nhà
Brad Klontz, một nhà tâm lý tài chính và đồng tác giả của cuốn “Mind Over Money”, cho biết nguồn gốc để thiết lập nền tảng nhận thức về tài chính cho con trẻ là cha mẹ nên đưa ra những quy tắc cho chúng. Nếu không có quy tắc, con trẻ sẽ có nguy cơ gặp những lỗ hổng về tài chính cá nhân.
“Cha mẹ cần giúp con trẻ nhận thức được ý nghĩa của những khoản chi phí”, Joline Godfrey, CEO của Independent Means, một công ty về giáo dục tài chính cho biết. “Bạn không thể mong đợi con trẻ đi ra ngoài thế giới và có thể tự lập nếu như chúng không biết hóa đơn điện là cái gì".
Sự giúp đỡ tồi
Cha mẹ thường có ý tốt khi họ cố gắng giúp con cái về mặt tài chính với hi vọng chúng sẽ gặp nhiều điều suôn sẻ hoặc có một cuộc sống tốt hơn so với mình trước kia. Nhưng hỗ trợ tài chính quá nhiều có thể làm hại con trẻ.
Đây không chỉ là vấn đề đối với con trẻ đến tuổi học đại học. “Trước khi là sinh viên, những chương trình có sẵn như việc học hè khiến con trẻ không có thời gian để hòa nhập vào môi trường và cộng đồng mới ngoài nhà trường. Từ đó, con trẻ không có đủ thời gian để có được một công việc”, Debbie Cox, giám đốc quản lý tại J.P.Morgan Private Bank cho biết.
Bên cạnh sự giáo dục từ phía nhà trường, cha mẹ cần trang bị những kiến thức xã hội và giáo dục tài chính cho con trẻ. Những công việc vào mùa hè có thể là điều tốt cho việc cải thiện giáo dục xã hội ở con trẻ.
“Trẻ cần phải tìm hiểu cái mà chúng thích để thức dậy vào mỗi buổi sáng, nhận được công việc đó để ý thức được việc giúp đỡ người khác hoặc cộng đồng”, Cox cho biết.
Một nhược điểm của bậc phụ huynh là cha mẹ thường có xu hướng quyết định, can thiệp và giải quyết vấn đề của con cái. Todd M. Morgan, giám đốc điều hành cấp cao tại quỹ đầu tư Bel Air Investment Advisors có trụ sở ở Los Angeles cho biết, “Đừng can thiệp để sữa chữa hoặc thay đổi cuộc sống và vấn đề của con trẻ trừ khi bạn được mời để làm việc đó”.
Cũng là bậc phụ huynh, Morgan cũng thừa nhận một vài sai lầm mà ông chia sẻ rằng, “Đừng làm cho con trẻ cảm thấy mình bất lực. Thay vào đó, trao quyền cho bọn trẻ để cúng tự quyết định những vấn đề của bản thân”.
Hỗ trợ vừa đủ
Cách đúng nhất để giúp con trẻ đang gặp khó khăn để tìm kiếm một công việc hay nghề nghiệp là gì?
Bà Godfrey, một chuyên viên về giáo dục tài chính cho rằng cha mẹ không cần phải trợ cấp quá nhiều cho con trẻ, thay váo đó đặt niềm tin và ủng hộ những gì chúng làm.
Điều này có nghĩa là cha mẹ và con trẻ cần ngồi xuống thảo luận về những kỳ vọng và mục tiêu. Nếu sự giúp đỡ về tài chính là cần thiết, số tiền chỉ cần vừa đủ và phải được giải thích.
Như tỷ phú giàu thứ 3 thế giới Warren Buffett từng nói rằng “Hãy cho chúng (các con) vừa đủ để chúng có thể làm bất cứ điều gì chúng muốn, nhưng không quá nhiều để chúng chẳng muốn làm gì cả.”
Điều này nghe có vẻ kinh ngạc. Nhưng hãy cổ vũ các con làm theo thần tượng mà chúng ngưỡng mộ và không nên trách cứ trước thất bại của chúng. Cả trong công việc và đời sống riêng tư hãy luôn ủng hộ các con chạy theo niềm đam mê của chính mình, cho dù công vệc đó có mang lại nhiều tiền hay không.
Hãy để con trẻ tìm thấy niềm vui từ sự lao động. “Vào một ngày mà bạn đã đứng rất lâu khiến chân bị đau để bán hàng, bạn sẽ nhận ra rất nhiều điều. Bạn kiếm tổng cộng 80 USD và mang về nhà 60 USD. Sau đó, bạn sẽ tính toán rằng 5 lần của 60 là 300 và một căn hộ cho thuê có giá là 800USD/tháng. Đó là những bước khởi đầu để suy nghĩ thực sự nghiêm túc về năng lực của tài chính”, Godfrey cho biết.
Theo Đinh Lộc - Tri thức trẻ

 

The post XEM NGƯỜI MỸ DẠY CON VỀ TIỀN BẠC VÀ LÀM GIÀU appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 7 năm 2016

GHÉT AI THÌ XÚI NGƯỜI TA MỞ NHÀ HÀNG

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Quote - GNA 39

"Món ăn ngon chỉ chiếm khoảng 17% trong quyết định chọn lựa một nhà hàng của khách. Các yếu tố quan trọng không kém là kinh nghiệm quản lý, thương hiệu, phong cách và môi trường phù hợp, vị trí, sự thuận lợi và tiện nghi dựa theo mục đích của khách, giá cả, thói quen của khách hàng, tiêu chuẩn sạch và cách phục vụ." Câu chuyện The Kafe – thương hiệu nhận được 5,5 triệu đô từ quỹ đầu tư danh giá bị đối tác tố chiếm dụng vốn kinh doanh, chây ì không trả nợ; Hay tình trạng starup kinh doanh ẩm thực nói chung và quán cà phê nói riêng mọc lên ào ạt buộc chúng ta phải nhìn nhận lại việc khởi nghiệp bằng kinh doanh ẩm thực. Có phải chúng ta đang quá ảo tưởng về sự phát triển dễ dàng mà quên mất sự thật “thành công ban đầu tại 1 địa điểm đơn lẻ, khi bị tung hô quá mức, thường là cái bẫy khiến chủ nhân không nhìn thấy rõ những khiếm khuyết của mô hình ban đầu lẫn những vấn đề phức tạp phát sinh khi mở rộng thành chuỗi và quá nhanh.”(*) Liệu Việt Nam có thể trở thành "bếp ăn của thế giới" như nhiều người Việt vẫn tin tưởng? Góc nhìn Alan xin mời Quý vị BCAs đặc biệt là những bạn đã, đang và sẽ khởi nghiệp trong ngành kinh doanh ẩm thực tham khảo bài viết “Ghét ai thì xúi người ta mở nhà hàng” để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này. "- Trong lần thăm Việt Nam, kinh tế gia Michael Porter có nói ẩm thực Việt Nam tuyệt vời và có thể là vũ khí mạnh để cạnh tranh trên thị trường thế giới. Ông có ý kiến gì? Tôi rất kính phục GS Porter về những thành tựu trong lĩnh vực học thuật. Tuy nhiên, tôi nghĩ lời ông phán về kinh doanh ẩm thực, hoặc là không thực tế, hoặc chỉ là lời xã giao với Việt Nam. Ẩm thực của quốc gia nào cũng đều rất đặc thù và được sự ưa chuộng của nhiều người trên thế giới tuỳ theo khẩu vị cá nhân. Hiện nay, bên Mỹ, phổ thông nhất là món ăn Ý hay Trung Quốc, với Mexico, Nhật, Ấn và Thái Lan đang trên đà tăng trưởng. Quan trọng hơn hết là các yếu tố kinh doanh không liên quan nhiều đến xuất xứ quốc gia của món ăn. - Những yếu tố này gồm những gì thưa ông? Tôi đã từng thất bại trong việc kinh doanh nhà hàng cách đây 28 năm, nên sau đó, có tìm hiểu thêm về các chất tố thành công cho một nhà hàng. Vài thống kê và nghiên cứu cho thấy món ăn ngon chỉ chiếm khoảng 17% trong quyết định chọn lựa một nhà hàng của khách. Các yếu tố quan trọng không kém là kinh nghiệm quản lý, thương hiệu, phong cách và môi trường phù hợp, vị trí, sự thuận lợi và tiện nghi dựa theo mục đích của khách, giá cả, thói quen của khách hàng, tiêu chuẩn sạch và cách phục vụ. Dĩ nhiên, đây là các yếu tố cho một nhà hàng full-service của Mỹ. Một nhà hàng tương tự ở Việt Nam hay một mô hình "thức ăn nhanh" có thể khác hơn ở nhiều điểm. - Ông có thể tiết lộ về tình huống thất bại 28 năm trước về nhà hàng của ông? Khoảng 1985, tôi kiếm khá tiền trong các kinh doanh khác, nên không hề có ý định mở nhà hàng. Cô bạn gái người Anh sau vài tháng cặp kè cho biết là cô đã từng học ở Cordon Bleu ở Paris nên mong ước làm chủ một nhà hàng Pháp ở California. Vì mê gái, tôi đành chiều ý. Tuy nhiên, sau khi đầu tư hơn 250 ngàn đô la để hoàn tất, tôi khám phá là cô bạn gái đã không biết nấu ăn lại còn không quản lý nổi, nên phải thuê các nhân viên khác thay thế. Riêng mình phải chạy ngược xuôi, vừa trông coi tiền bạc vừa tìm người sang lại cửa hàng. Tóm tắt, tôi mất gần 1 năm và 100 ngàn trong phi vụ này. Không đau vì tiền; nhưng vẫn ngậm ngùi khi mất một cô bạn gái lý tưởng. Sau này, tôi ghét ai thì thích xúi người ta mở nhà hàng. Đây là một ngành nghề khó khăn nhất với nhiều doanh nhân tại Mỹ vì tỷ lệ thành công lớn rất hiếm hoi. Quote - GNA 39 - Ông có cho là bánh mì kẹp thịt Việt Nam có thể cạnh tranh trong thị trường thức ăn nhanh của thế giới? Hiện nay, bánh mì kẹp thịt của Việt Nam khá giống sản phẩm và mô hình kinh doanh của xâu chuỗi Subway Sandwich lớn nhất toàn cầu. Subway thành công nhờ sản phẩm khá đa dạng, đơn giản, nhiều dinh dưỡng (khi so với các chuỗi burger hay gà rán) nhưng hợp khẩu vị. Thêm vào đó, cách phục vụ nhanh chóng; bảo đảm về đồng nhất của chất lượng, môi trường sạch là các yếu tố quan trọng khác. Bắt chước thành công của Subway là xâu chuỗi bánh mì kẹp thịt của Pret a Manger, Oliver's, Delifrance ... tại Á Châu. Còn khắp thế giới, loại bánh mì Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ... cũng khá phổ biến. Nếu có doanh nhân nào muốn tạo nên một xâu chuỗi bánh mì thịt Việt như Lee's Sandwiches ở California, thì cũng có thể thành công tuỳ sức mạnh quản lý và khả năng tài chánh. Nhưng chỉ cần bán bánh mì thịt mà giàu... thì hơi hoang tưởng. - Còn phở Việt Nam? Ông đánh giá cơ hội? Tôi tin là nếu doanh nhân nào muốn thiết lập một xâu chuỗi thức ăn nhanh dùng bánh mì hay phở hay cơm kẹp, xôi, cháo, bún... làm sản phẩm có thể tìm ra những nghiên cứu về sự thành công của các xâu chuỗi thức ăn nhanh. Phở 24 đã tạo những tiếng vang cho phở Việt lúc đầu. Khi có kế hoạch bài bản, nhóm quản trị giỏi và sáng tạo, lợi thế cạnh tranh, vốn mạnh... các doanh nhân đều có cơ hội thành công trong ngành ẩm thực. - Qua đến lĩnh vực quán cà phê, theo ông liệu chúng ta có thể xâm chiếm tốt thị trường Mỹ hay các quốc gia lân cận? Cái này thì phải hỏi ông Đặng Lê Nguyên Vũ hay ông gì mua lại một thị trấn nhỏ bên Mỹ để... bán cà phê phin cho dân quê. Họ có dư thừa kinh nghiệm xương máu. - Người Việt mở khá nhiều quán ăn đủ loại ở Âu Mỹ hay Úc. Có ai đã thành công và đạt đỉnh của danh tiếng, cũng như lợi nhuận? Tôi không rõ lắm vì qua đến Âu Mỹ, tôi lại ít chọn quán ăn Á Châu. Tuy nhiên, ngoài các nhà hàng phục vụ chính yếu cho Việt Kiều, quán ăn của gia đình chị An tên Crustaceans ở Beverly Hills tạo nhiều tiếng vang trên các mạng truyền thông nhờ thu hút nhiều siêu sao và giới nghệ sĩ Hollywood. Tuy vậy, khi gia đình mở các nhà hàng Crustaceans khác ở Las Vegas hay Newport Beach, dường như họ lại không thành công. Qua báo chí, cũng có rất nhiều tiệm ăn Việt được khen ngợi, nhưng như tôi đã nói từ đầu, đây là những thành công cá nhân, đi song song với rất nhiều thất bại của các tiệm Việt khác (tỷ lệ thất bại khoảng 70% cũng gần giống với mọi tiệm ăn có các thực đơn từ mọi nước khác). Món ăn Việt chỉ là một sản phẩm, dù đặc thù và dinh dưỡng, vẫn chưa đủ là yếu tố chắc chắn sẽ đem lại thành công cho doanh nhân. Tôi còn nhớ một tiệm ăn Việt rất thành công ở Thượng Hải do một người Hồng Kông thiết lập và không có cả một người bếp Việt. Ông chủ cười nói nhân viên nấu ăn của tôi học ẩm thực Việt qua Internet. - Ông có lời khuyên gì cho các doanh nhân trẻ đang ôm mộng kinh doanh ẩm thực? Cũng giống như mọi ngành kinh doanh khác: phải có kỹ năng, kinh nghiệm và nhóm quản lý và phụ trợ sáng tạo, kiên trì (management and business network). Trước khi làm gì, phải hoàn tất một kế hoạch kinh doanh bài bản, nêu rõ những lợi thế cạnh tranh và khả năng tài chánh. Tất cà bắt đầu bằng một ước mơ, nhưng khi phát triển, cần những hành động thiết thực rõ ràng. - TS Alan Phan - Bài viết trích từ cuốn sách "Góc nhìn Alan dành tặng doanh nhân Việt trong thế trận toàn cầu" (*)Những ảo tưởng về startup trong chuỗi cafe ở Việt Nam: http://ift.tt/29bbJX1

The post GHÉT AI THÌ XÚI NGƯỜI TA MỞ NHÀ HÀNG appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Thứ Sáu, ngày 10 tháng 6 năm 2016

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

An nhau trong nen kinh te tri thuc

ĂN NHẬU TRONG NỀN KINH TẾ KIẾN THỨC "Trong 3 năm qua, tôi làm “tư vấn không công” cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam, lớn và nhỏ, công và tư. Trong khi phân tích các bản báo cáo tài chánh, tôi nhận thấy một mẫu số chung là các tiêu xài nhiều khoảng 4 lần về mục tiếp khách giải trí (từ 3% đến 10% doanh thu, tùy phân loại ngành nghề). Trong khi đó, đề mục nghiên cứu và đào tạo lại ít bằng 1/10 các công ty nước ngoài có mô hình kinh doanh tương tự. Trong một thế giới mới nơi kiến thức trở thành sức mạnh (knowledge is power), chúng ta đang truyền đạt thông điệp gì cho các thế hệ quản lý kế tiếp?" An nhau trong nen kinh te tri thuc   -TS. Alan Phan- +++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++ Một đại gia mời tôi và hai người bạn Mỹ cuối tuần vừa qua lên Long Thành để chơi golf. Sau đó, anh đưa chúng tôi về một quán ăn rất đẹp cạnh bờ sông Sài Gòn, chiêu đãi một bữa ăn tối với những đặc sản khó quên. Tôi rất ấn tượng với phong cách tiêu xài, hơn 42 triệu đồng cho một buổi chiều. Hai người bạn Mỹ có hai quỹ đầu tư lớn nhưng họ đã minh xác ngay từ đầu là họ không có ý định đầu tư hay làm ăn gì tại Việt Nam. Tóm lại, đây hoàn toàn là một buổi giao tiếp xã hội mà đại gia Việt muốn khoe khoang sự giàu có sang trọng của mình với hai người xa lạ. Ngày hôm sau, tôi mời anh bạn đại gia ăn trưa để trả lễ. Sẵn đang tổ chức buổi Siêu Hội Thảo về Đầu Tư và Kinh Doanh, tôi gởi anh một vé mời và hỏi anh có muốn giúp ban tổ chức bằng cách mua 10 vé với giá chiết khấu cho các nhân viên ban quản lý (chỉ có 7 triệu). Tôi bảo đảm với anh là những kiến thức thực tế thu nhặt được từ 20 chuyên gia và doanh nhân nổi danh sẽ có giá trị thực tiễn hơn 10 khóa học của chương trình MBA. Anh từ chối và nói công ty anh (trên 2 ngàn nhân viên) không tiêu xài vào các đề mục này. Tôi tôn trọng lập trường của anh; và nói sẽ gởi thêm 10 vé mời cho nhân viên anh để xem kiến thức mới có đáng 7 triệu đồng như tôi tin tưởng. Mỗi công ty có một văn hóa riêng và cuối cùng, chỉ có kết quả của doanh thu và lợi nhuận cùng sự phát triển bền vững của thương hiệu mới chứng minh được hiệu năng của ban quản lý. Có nhiều con đường đến La Mã và không có một công thức nào ứng dụng cho mọi tình thế. Tuy nhiên, trong 3 năm qua, tôi làm “tư vấn không công” cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam, lớn và nhỏ, công và tư. Trong khi phân tích các bản báo cáo tài chánh, tôi nhận thấy một mẫu số chung là các tiêu xài nhiều khoảng 4 lần về mục tiếp khách giải trí (từ 3% đến 10% doanh thu, tùy phân loại ngành nghề). Trong khi đó, đề mục nghiên cứu và đào tạo lại ít bằng 1/10 các công ty nước ngoài có mô hình kinh doanh tương tự. Trong một thế giới mới nơi kiến thức trở thành sức mạnh (knowledge is power), chúng ta đang truyền đạt thông điệp gì cho các thế hệ quản lý kế tiếp? Quan chức thì dĩ nhiên thích ăn nhậu vì họ không phải trả tiền, nhưng cái giá phải trả cho các doanh nghiệp tư thường khá đắt: ngoài tiền ăn uống, chúng ta phải tính thêm thì giờ lãng phí, bệnh tật tăng thêm những ngày nghỉ không chánh thức và sự mê muội khi say mèm hay đi kèm với những quyết định sai lầm. Tuy vậy anh bạn đại gia không đồng ý với tôi. Anh nói là sự “thành công” của anh trên thương trường là do các mối quan hệ tạo nên từ những ăn nhậu thâu đêm suốt sáng. Anh cho là trong việc làm ăn, không phải “điều” anh biết mà là “người” anh biết (it’s not what you know but who you know). Anh nghĩ đây là lý do chính tôi sẽ không kiếm tiền được ở Việt Nam này. Cho đến giờ này thì anh hoàn toàn chính xác trong nhận định của anh. Tôi cũng không ngây thơ để mà nghĩ là Siêu Hội Thảo về Đầu Tư và Kinh Doanh 2012 sẽ thành công về mọi mặt như ước muốn. Nhưng tôi tin rằng phương thức quản trị của các doanh nghiệp Việt sẽ phải thay đổi nhanh chóng để hy vọng bắt kịp tiến bộ của nền kinh tế toàn cầu, một nền kinh tế dựa vào “kiến thức”, không phải vài quan hệ với các quan chức. - Alan Phan - - Trích từ cuốn sách "Góc nhìn Alan dành tặng Doanh nhân Việt trong thế trận toàn cầu" -

The post appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Thứ Bảy, ngày 04 tháng 6 năm 2016

VÌ SAO NGƯỜI DO THÁI GIỎI LÀM KINH TẾ? HỌC GÌ TỪ HỌ?

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Yellen

 "Nếu muốn giàu có thì đừng đọc những thứ...người nghèo đọc" - Khuyết danh
+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Cộng đồng Do Thái ở Mỹ có 5,7 triệu người, chiếm 40% tổng số người Do Thái trên toàn thế giới, là quần thể dân tộc thiểu số thành công nhất, có mức sống bình quân cao hơn mức trung bình của dân Mỹ. Dù chỉ chiếm khoảng 1,7~2,6% số dân nước Mỹ (số liệu 2012; tùy định nghĩa thế nào là người Do Thái) nhưng người Do Thái chiếm khoảng một nửa số doanh nhân giàu nhất Mỹ. Họ nắm giữ phần lớn nền kinh tế tài chính nước này, tới mức người Mỹ có câu nói “Tiền nước Mỹ nằm trong túi người Do Thái”
15 đời chủ tịch FED - Cục dự trữ Liên Bang Mỹ thì có tới...11 chủ tịch người gốc Do Thái
Yellen
"Người Do Thái luôn nghĩ rằng Thượng Đế giao cho họ nghĩa vụ và quyền làm giàu. Đây là động lực chủ yếu khiến họ ở đâu cũng lo làm giàu, không bao giờ chịu nghèo khổ. Hai nghìn năm qua, dù sống lưu vong ăn nhờ ở đợ các quốc gia khác và ở đâu cũng bị cấm sở hữu mọi tài sản cố định nhưng dân tộc này vẫn nghĩ ra nhiều cách kinh doanh hữu hiệu bằng các dịch vụ như buôn bán, dành dụm tiền để cho vay lãi …"
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Giỏi thực hành và giỏi cả lý thuyết kinh tế
Ai cũng biết người Do Thái từ xưa đến nay đều rất giỏi làm kinh tế. Nếu không thì họ không thể nào tồn tại nổi trong suốt 2.000 năm bị trục xuất ra khỏi tổ quốc mình, phải sống lưu vong khắp thế giới, phần lớn đi tới đâu cũng bị hắt hủi, xua đuổi thậm chí hãm hại, tàn sát, bị cấm sở hữu bất cứ tài sản cố định nào như nhà đất, tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, nguyên vật liệu …). Cho tới năm 1948 dân tộc lưu vong này mới được Liên Hợp Quốc chỉ định cho một “mảnh đất cắm dùi” rộng 20.770 km2 – tức nước Israel hiện nay, nơi tập trung khoảng 43% trong tổng số 13,9 triệu người Do Thái trên toàn thế giới.
Israel nghèo tài nguyên, thiếu cả nước ngọt, lại luôn luôn sống trong tình trạng bất ổn do bị các nước A Rập xung quanh đe dọa chiến tranh, nhưng người dân nước này đã vượt qua mọi khó khăn xây dựng được một nền kinh tế phát triển. GDP bình quân đầu người năm 2014 đạt 32.700 USD, cao thứ 50 trên thế giới, là nước có mức sống cao ở vùng Trung Đông và châu Á.[1]
Cộng đồng Do Thái ở Mỹ có 5,7 triệu người, chiếm 40% tổng số người Do Thái trên toàn thế giới, là quần thể dân tộc thiểu số thành công nhất, có mức sống bình quân cao hơn mức trung bình của dân Mỹ. Dù chỉ chiếm khoảng 1,7~2,6% số dân nước Mỹ (số liệu 2012; tùy định nghĩa thế nào là người Do Thái) nhưng người Do Thái chiếm khoảng một nửa số doanh nhân giàu nhất Mỹ. Họ nắm giữ phần lớn nền kinh tế tài chính nước này, tới mức người Mỹ có câu nói “Tiền nước Mỹ nằm trong túi người Do Thái”. Nhờ thế trên vấn đề Trung Đông chính phủ Mỹ xưa nay luôn bênh vực và viện trợ Israel những khoản tiền khổng lồ.[2]
Trong 50 người giàu nhất thế giới hiện nay do tạp chí Forbes đưa ra (3/2015) có tới 10 người Do Thái.[3] Đó là :
Larry Ellison, tài sản 54,2 tỷ USD, nhà sáng lập và CEO Oracle Corp., giàu thứ 3 nước Mỹ
Michael Bloomberg, 35,5 tỷ USD
Mark Zuckerberg, 33,4 tỷ USD, tỷ phú trẻ nhất thế giới (sinh 1984)
Sheldon Adelson, 32,4 tỷ USD, vua casino
Sergey Brin và Larry Page (29,2 và 29,7 tỷ USD), đồng sáng lập Google
George Soros, 24,2 tỷ USD, nhà đầu tư và từ thiện
Carl Icahn, 23,5 tỷ USD, nhà đầu tư và từ thiện
Len Blavatnik, 20,2 tỷ USD, người giàu nhất nước Anh (sinh tại Liên Xô cũ),
Michael Dell, nhà sáng lập Dell Computer Founder.
Rất nhiều nhà lý thuyết kinh tế hàng đầu thế giới là người Do Thái, các lý thuyết họ xây dựng nên đã ảnh hưởng to lớn nếu không nói là quyết định tới tiến trình tiến hóa của nhân loại:
Karl Marx[4] người xây dựng học thuyết kinh tế chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản, được gọi là một trong hai người Do Thái làm đảo lộn cả thế giới (người kia là Jesus Christ);
Trong tổng số 74 chủ nhân giải Nobel kinh tế thời gian 1969-2014, có 22 là người Do Thái, chiếm tỷ lệ gần 30%, dù người Do Thái chỉ chiếm 0,19 % số dân toàn cầu. Chẳng hạn Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976) và Paul Krugman (2008)… là những tên tuổi quen thuộc trong giới kinh tế thế giới hiện nay, các lý thuyết của họ được cả thế giới thừa nhận và học tập, áp dụng…
Từ năm 1987 tới nay có ba người Do Thái kế tiếp nhau làm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed, tức Ngân hàng Trung ương Mỹ), cơ quan nắm quyền sinh sát trong giới tài chính Mỹ và thống trị lĩnh vực tài chính tiền tệ toàn cầu. Đó là ông Alan Greenspan 19 năm liền (2/1987-2/2006) được 4 đời Tổng thống Mỹ tín nhiệm cử vào chức vụ này. Tiếp sau là ông Ben Bernanke (nhiệm kỳ 2/2006-2/2014) và bà Janet Yellen (từ 2/2014 tới nay).
Paul Wolfowitz cùng người tiền nhiệm James D. Wolfensohn, hai cựu chủ tịch Ngân hàng Thế giới, tổ chức tài chính có tác dụng rất lớn đối với các nước đang phát triển, đều là người Do Thái.
Nhiều nhà giàu nổi tiếng thế giới từng tác động không nhỏ tới chính trị, kinh tế nước Mỹ và thế giới là người Do Thái. Đơn cử vài người:
Jacob Schiff (1847-1920), chủ nhà băng ở Đức, sau sang Mỹ định cư; năm 1904 do căm ghét chính quyền Sa Hoàng giết hại hàng trăm nghìn dân Do Thái ở Nga, ông đã cho chính phủ Nhật vay 200 triệu USD (một số tiền cực kỳ lớn hồi ấy) để xây dựng hải quân, nhờ đó Nhật thắng Nga trong trận hải chiến Nhật-Nga năm 1905. Nhớ ơn này, trong Thế chiến II phát xít Nhật đã không giết hại người Do Thái sống ở Trung Quốc, tuy đồng minh số một của Nhật là phát xít Đức có nhờ Nhật “làm hộ” chuyện ấy. Schiff là người nước ngoài đầu tiên được Nhật Hoàng Minh Trị tiếp kiến tại Hoàng cung Nhật.
George Soros, nổi tiếng về ý tưởng đầu tư và làm từ thiện quy mô lớn, từng làm chao đảo thị trường tài chính toàn cầu.
Michael Blooomberg, sáng lập và sở hữu 88% Bloomberg L.P., một công ty truyền thông về tin tức tài chính và dịch vụ thông tin. Blooomberg từng trúng cử liền 3 khóa thị trưởng thành phố New York (2002-2013) với mức lương tượng trưng mỗi năm 1 USD và là chủ kênh truyền hình Bloomberg nổi tiếng trong giới kinh tế thế giới.
Nguyên nhân sâu xa
Vì sao người Do Thái lại giỏi làm kinh tế, tài chính trên cả hai mặt lý thuyết và thực hành như vậy?
Lịch sử cho thấy yếu tố quyết định thành công của một dân tộc bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của họ.
Để tìm hiểu truyền thống văn hóa của dân tộc này có lẽ ta cần tìm hiểu các nguyên tắc chính của đạo Do Thái (Judaism), tôn giáo lâu đời nhất thế giới còn tồn tại tới ngày nay và là chất keo bền chắc gắn bó cộng đồng, khiến dân tộc này giữ gìn được nguyên vẹn nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa mặc dù phải sống phân tán, lưu vong và bị kỳ thị, xua đuổi, hãm hại, tàn sát dã man trong suốt 2.000 năm qua. Có thể nói, nếu không có chất keo ấy thì từ lâu dân tộc Do Thái đã bị tiêu diệt hoặc đồng hóa và biến mất khỏi lịch sử. Đạo Do Thái là tôn giáo duy nhất thành công trên cả hai mặt: giữ được sự tồn tại của dân tộc và hơn nữa đưa họ vươn lên hàng đầu thế giới trên hầu hết các lĩnh vực trí tuệ.
Muốn vậy, ta thử điểm qua vài nét về Kinh thánh của người Do Thái (Hebrew Bible) – hơn 10 thế kỷ sau kinh điển này được đạo Ki-tô lấy nguyên văn làm phần đầu Kinh Thánh của họ và gọi là Cựu Ước, nhằm phân biệt với Tân Ước do các nhà sáng lập Ki-tô giáo viết. Cũng cần xem xét một kinh điển nữa của đạo Do Thái là Kinh Talmud, quan trọng hơn cả Cựu Ước, có đưa ra nhiều nguyên tắc cụ thể cho tới nay vẫn còn giá trị về kinh doanh, buôn bán.
Trước hết người Do Thái có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người. Kinh Talmud viết: Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Các ông bố bà mẹ Do Thái dạy con: Của cải, tiền bạc của chúng ta đều có thể bị kẻ khác tước đoạt nhưng kiến thức, trí tuệ trong đầu óc ta thì không ai có thể cướp nổi. Với phương châm đó, họ đặc biệt coi trọng việc giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành. Ngoài ra họ chú trọng truyền cho nhau các kinh nghiệm làm ăn, không bao giờ giấu nghề. Người Do Thái có trình độ giáo dục tốt nhất trong các cộng đồng thiểu số ở Mỹ.
Thứ hai, đạo Do Thái đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc. Đây là một điểm độc đáo khác hẳn quan điểm của đạo Ki-tô, đạo Phật, đạo Khổng, ta cần phân tích thêm.
Có lẽ sở hữu tài sản là một trong các vấn đề quan trọng nhất của đời sống loài người, là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa con người với nhau và chiến tranh giữa các quốc gia. Hegel, đại diện nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức từng nói: “Nhân quyền nói cho tới cùng là quyền về tài sản.” Rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, toàn dân mới có nhân quyền. Một xã hội có phân hóa giàu nghèo thì chưa thể có bình đẳng thực sự. Đạo Do Thái rất chú trọng nguyên tắc làm cho mọi người cùng có tài sản, tiền bạc, cùng giàu có, tức cùng có nhân quyền và thực sự bình đẳng với nhau.
Triết gia Max Weber viết: “Đạo Ki-tô không làm tốt bằng đạo Do Thái, vì họ kết tội sự giàu có.” Quả vậy, Chúa Jesus từng nói: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Chúa” (Tân Ước, Mathew 19:24), ý nói ai giàu thì khó lên thiên đường, ai nghèo thì dễ lên thiên đường hơn – qua đó có thể suy ra đạo Ki-tô thân cận với người nghèo khổ, là tôn giáo của người nghèo. Khổng giáo và đạo Phật lại càng khinh thường tài sản, tiền bạc, coi nghèo là trong sạch, giàu là bẩn thỉu.
Ngược lại Cựu Ước ngay từ đầu đã viết: “Vàng ở xứ này rất quý” (Genesis 2:12). Ý tưởng quý vàng bạc, coi trọng tài sản vật chất đã ảnh hưởng lớn tới người Do Thái, họ đều muốn giàu có.
Khái niệm tài sản xuất hiện ngay từ cách đây hơn 3.000 năm khi vua Ai Cập bồi thường cho Abraham vị tổ phụ của bộ lạc Do Thái, khiến ông này “có rất nhiều súc vật, vàng bạc” (Genesis 13:2). Thượng Đế yêu cầu Abraham phải giàu để có cái mà thờ cúng Ngài.
Thượng Đế Jehovah cho rằng sự giàu có sẽ giúp chấm dứt nạn chém giết nhau. Khi Moses dẫn dân Do Thái đi khỏi Ai Cập cũng mang theo rất nhiều súc vật. Những người xuất thân gia đình giàu có hồi ấy như Jacob, Saul, David … đều được Cựu Ước ca ngợi là có nhiều phẩm chất tốt, lắm tài năng, lập được công trạng lớn cho cộng đồng dân tộc và đều trở thành lãnh đạo, vua chúa.
Ngược lại, văn hóa phương Đông thường ca ngợi phẩm chất của những người nghèo.
Trọng tiền bạc là đặc điểm nổi bật ở người Do Thái. Họ coi đó là phương tiện tốt nhất để bảo vệ mình và bảo vệ dân tộc họ. Quả vậy, không có tiền thì họ làm sao tồn tại nổi ở những quốc gia và địa phương họ sống nhờ ở đợ, nơi chính quyền và dân bản địa luôn chèn ép, gây khó khăn. Hoàn cảnh ấy khiến họ sáng tạo ra nhiều biện pháp làm giàu rất khôn ngoan. Thí dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ đại – về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Buôn bán cũng là một biện pháp tồn tại khi trong tay không có tài sản cố định nào.
Người ta nói dân Do Thái có hai bản năng: thứ nhất là bản năng kiếm tiền; thứ hai là bản năng làm cho tiền đẻ ra tiền – họ là cha đẻ của thuyết lưu thông tiền tệ ngày nay mà chúng ta đều áp dụng với quy mô lớn.
Tuy vậy, sự quá gắn bó với tiền bạc là một lý do khiến người Do Thái bị chê bai. Ai từng đọc tiểu thuyết Ai-van-hô (Ivanhoe) của Walter Scott chắc còn nhớ mãi hình ảnh ông lão Do Thái Isaac (I-sắc) đáng thương, bố của nàng Rebecca xinh đẹp và thánh thiện, lúc nào cũng khư khư giữ túi tiền và bị hiệp sĩ Đầu Bò nhạo báng khinh bỉ thậm tệ. Các vở kịch của Shakespear đưa ra nhiều hình ảnh khiến người ta có cảm giác người Do Thái bần tiện, ích kỷ, xảo trá. Tập quán cho vay lãi của người Do Thái bị nhiều nơi lên án. Hệ thống cửa hiệu của người Do Thái ở Đức là đối tượng bị bọn Quốc Xã Hitler đập phá đầu tiên hồi thập niên 1930. Người Đức có câu ngạn ngữ “Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành.”
Karl Marx xuất thân gia đình khá giả, vợ ông cũng là con nhà quý tộc, nhưng ông không coi trọng đồng tiền. Marx từng nói: Đồng tiền là con đĩ của loài người.[5] Trong bài viết “Về vấn đề Do Thái” công bố năm 1843, ông mạnh mẽ công kích dân tộc Do Thái: “Sự sùng bái cá nhân của người Do Thái là gì? Lừa đảo. Đức Chúa Trời của họ là gì? Tiền!”.[6] Ông cho rằng tiền bạc là vị thần gắn bó với người Do Thái; xóa bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ kéo theo sự xóa bỏ chủ nghĩa Do Thái. Như vậy nghĩa là Marx đã thừa nhận người Do Thái tham dự sáng lập ra chủ nghĩa tư bản, một chế độ xã hội mới thay thế chế độ phong kiến và làm nên phần chủ yếu trong cộng đồng quốc tế hiện nay. Quả thật, người Do Thái có đóng góp rất lớn về lý thuyết và thực hành trong việc xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Kinh Talmud viết: Mọi người phải yêu Thượng Đế với toàn bộ trái tim, cuộc đời và của cải của mình; mỗi người đều phải quan tâm tới tài sản; không ai được phép dùng tài sản của mình để làm hại kẻ khác và không ai được trộm cắp tài sản người khác; tài sản của một người nhưng không phải chỉ là của người đó mà phải dùng nó để giúp kẻ khác … Có thể hiểu “Yêu Thượng Đế với toàn bộ tài sản của mình” nghĩa là phải sử dụng tài sản riêng của mình theo lệnh Thượng Đế, nghĩa là phải chia bớt cho người nghèo. Quy ước này đã đặt nền móng cho tư tưởng nhân ái, bình đẳng của văn minh phương Tây. Từ đó ta dễ hiểu vì sao cộng đồng Do Thái ở đâu cũng giúp đỡ nhau để tất cả cùng giàu lên, không có ai nghèo khổ.
Đạo Do Thái coi làm giàu là bổn phận nặng nề của con người; nói “nặng nề” vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện. Những người Do Thái giàu có luôn sống rất giản dị, tiết kiệm và năng làm từ thiện. Soros từng góp 4 tỷ USD (trong tổng tài sản 7 tỷ khi ấy) cho công tác từ thiện. Không một nhà giàu Do Thái nào không có quỹ từ thiện của mình. Từ đây có thể hiểu được tại sao cộng đồng Do Thái lại cùng giàu có như thế.
Người Do Thái luôn nghĩ rằng Thượng Đế giao cho họ nghĩa vụ và quyền làm giàu. Đây là động lực chủ yếu khiến họ ở đâu cũng lo làm giàu, không bao giờ chịu nghèo khổ. Hai nghìn năm qua, dù sống lưu vong ăn nhờ ở đợ các quốc gia khác và ở đâu cũng bị cấm sở hữu mọi tài sản cố định nhưng dân tộc này vẫn nghĩ ra nhiều cách kinh doanh hữu hiệu bằng các dịch vụ như buôn bán, dành dụm tiền để cho vay lãi …
Muốn làm giàu, điều cơ bản là xã hội phải thừa nhận quyền tư hữu tài sản.
Kinh Talmud viết: Ai nói “Của tôi là của tôi, của anh là của anh” (mine is mine and yours is yours) thì là người bình thường (average); nói “Của tôi là của anh, của anh là của tôi” thì là kẻ ngu ngốc; nói “Của tôi là của anh và của anh là của anh” thì là ngoan đạo (godly); ai nói “Của anh là của tôi và của tôi là của tôi” là kẻ xấu (evil). Nghĩa là họ thừa nhận quyền tư hữu tài sản là chính đáng, không ai được xâm phạm tài sản của người khác.
Tuy thừa nhận quyền sở hữu tài sản và luật pháp bảo vệ quyền đó, nhưng đạo Do Thái không thừa nhận quyền sở hữu tài sản tuyệt đối và vô hạn, cho rằng tất cả của cải đều không thuộc về cá nhân mà thuộc về Thượng Đế, mọi người đều chỉ là kẻ quản lý hoặc kẻ được ủy thác của cải đó. Tài nguyên thiên nhiên do Thượng Đế tạo ra là để ban cho tất cả mọi người, không ai có quyền coi là của riêng mình. Đây là một quan niệm cực kỳ tiến bộ và có giá trị hiện thực cho tới ngày nay: tài nguyên thiên nhiên, sự giàu có của đất nước là tài sản của toàn dân, tuyệt đối không được coi là của một số nhóm lợi ích hoặc cá nhân.
Kinh Talmud viết nhiều quy tắc hữu dụng về kinh doanh. Chẳng hạn: – Vay một quả trứng, biến thành một trại ấp gà; – Mất tiền chỉ là mất nửa đời người, mất lòng tin (tín dụng) là mất tất cả; – Nghèo thì đáng sợ hơn 50 loại tai nạn; – Giúp người thì sẽ làm tăng tài sản; ki bo chỉ làm nghèo đi; – Chỉ lấy đi thứ gì đã trả đủ tiền cho người ta; – Biết kiếm tiền thì phải biết tiêu tiền; v.v…
So sánh Cựu Ước và Talmud với Tân Ước, có thể thấy đạo Do Thái là tôn giáo của người muốn làm giàu, còn đạo Ki-tô là tôn giáo của người nghèo. Khác biệt căn bản ấy là một trong các lý do khiến Giáo hội Ki-tô ngày xưa khinh ghét người Do Thái (hy vọng trong một dịp khác chúng tôi sẽ trình bày về vấn đề này).
Từ sự phân tích sơ qua về quan điểm đối với tài sản và tiền bạc nói trên, có thể thấy hệ thống tư tưởng của đạo Do Thái rất phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và chính vì thế nó tạo dựng nên truyền thống văn hóa bất hủ của dân tộc Do Thái – nền móng vững chắc làm cho dân tộc này dù phải sống lưu vong không tổ quốc hàng nghìn năm nhưng cuối cùng vẫn là dân tộc thành công nhất trên hầu hết các hoạt động của loài người.
Đồng thời các nguyên lý chính của đạo Do Thái đã tác động không nhỏ tới giáo lý đạo Ki-tô và đạo Islam; hai tôn giáo lớn này đều có nguồn gốc từ đạo Do Thái.
Cuối cùng, nhờ có những điểm độc đáo nói trên, văn minh Do Thái của phương Đông trong quá trình giao lưu kết hợp với văn minh Hy-lạp của phương Tây đã sinh ra một nền văn minh mới – văn minh Ki-tô giáo, cuối cùng trở thành nền văn minh phương Tây rực rỡ mấy nghìn năm nay. Có lẽ đây là thành tựu đáng kể nhất mà nền văn minh Hebrew đã đóng góp cho nhân loại. Điều đáng nói là, do các nguyên nhân lịch sử phức tạp, lâu nay người ta đã coi nhẹ nền văn minh ấy, và bây giờ đã đến lúc loài người nên xem lại quan điểm này./.
(Bài của khách - theo Nguyễn Hải Hoành - Nghiên cứu quốc tế)

The post VÌ SAO NGƯỜI DO THÁI GIỎI LÀM KINH TẾ? HỌC GÌ TỪ HỌ? appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Thứ Năm, ngày 26 tháng 5 năm 2016

OBAMA ĐẾN VIỆT NAM VÀ TPP

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Obama & TPP

Obama & TPP
- Bài của khách -
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Nhân dòng sự kiện Tổng Thống Obama đến Việt Nam với hàng loạt những lịch trình đáng chú ý và những bài diễn văn lay động và truyền cảm hứng cho giới trẻ, có nhiều BCAs (Bạn của Alan) thắc mắc liệu Obama sẽ làm gì trong chuỗi ngày ngắn ngủi còn lại của nhiệm kì Tổng Thống của mình để thúc đẩy Quốc Hội Mỹ phê duyệt TPP? Liệu TPP sẽ có "đời sống" ra sao khi những ứng viên khác là Donald Trump hoặc Hillary Clinton thắng cử vào cuối năm 2016?
Ban Biên Tập xin đăng 1 bài viết hay để cho quý vị có cơ hội tìm hiểu và có 1 góc nhìn thú vị thêm về vấn đề này:
++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++
Một trong những điểm nhấn của chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng thống Obama là thúc đẩy việc thông qua và triển khai Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Nhưng vấn đề đặt ra là liệu ông Obama có thể cam kết một điều ngược lại: thúc đẩy chính Quốc hội Mỹ thông qua TPP trong nhiệm kỳ của ông và nếu không làm được điều này, liệu TPP sẽ như thế nào dưới nhiệm kỳ tổng thống Mỹ khác.
Phía Việt Nam thì đã có lộ trình khá rõ ràng. Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 4-2016 cho biết, sẽ trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định TPP tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV. Thậm chí, Chính phủ cũng đã giao các bộ, ngành và địa phương đề xuất phương án điều chỉnh pháp luật cụ thể phù hợp với lộ trình và yêu cầu của Hiệp định TPP.
Về phía Mỹ, động thái tích cực nhất cho tới nay là việc Quốc hội nước này, vào tháng 7 năm ngoái, đã trao quyền đàm phán nhanh (TPA) cho phía Chính phủ Mỹ nhờ đó quá trình đàm phán TPP mới kết thúc và được các bên chính thức ký kết vào ngày 4-2-2016. Với TPA, Quốc hội Mỹ sẽ thông qua TPP theo kiểu trọn gói, tức phê chuẩn hay chưa phê chuẩn chứ không thể thay đổi từng điều khoản nữa.
Vấn đề là cho đến nay, không ai biết bao giờ thì Quốc hội Mỹ sẽ đưa chuyện TPP ra bàn để phê chuẩn. Năm nay lại là năm bầu cử tổng thống và Quốc hội Mỹ nên chưa biết kết quả phê chuẩn sẽ như thế nào. Bởi theo truyền thống, Chính phủ Mỹ thường dựa vào phía đảng Cộng hòa để thông qua các hiệp định thương mại vì phía đảng Dân chủ thường phản đối các hiệp định tự do hóa thương mại như thế này.
Ngay cả bà Hillary Clinton, cựu Ngoại trưởng, từng đóng vai trò quan trọng trong đàm phán TPP, nay trong tư cách ứng cử viên tổng thống cho đảng Dân chủ vừa mới tuyên bố phản đối việc thông qua TPP khi chưa qua mùa bầu cử. Theo tường thuật của báo chí Mỹ, khi được hỏi: Nếu được bầu làm tổng thống, liệu bà có phản đối việc tổ chức bỏ phiếu cho TPP [tại Quốc hội] trong một kỳ họp “chuyển giao” trước khi bà nhậm chức? Bà Clinton đáp: Tôi đã nói tôi phản đối Hiệp định TPP - và điều đó có nghĩa trước và sau bầu cử. Đại diện cho phía đảng Cộng hòa, ứng cử viên hàng đầu Donald Trump thì từ lâu đã nói rõ ý định “xóa bài làm lại” đối với TPP. Việc hầu như các ứng cử viên hàng đầu của cả hai đảng được cử tri ủng hộ nhiều nhất đều phải bày tỏ sự chống đối với TPP cho thấy các nghị sĩ Quốc hội Mỹ không thể nào ngó lơ xu hướng này nếu muốn chiếm phiếu của cử tri đang muốn phục hồi chủ nghĩa bảo hộ.
Như vậy vai trò còn lại của ông Obama, nếu có, là làm sao thúc đẩy đưa TPP ra thảo luận và phê chuẩn vào kỳ họp “chuyển giao”, tức đã bầu xong Quốc hội mới nhưng chưa nhậm chức, Quốc hội cũ có phê chuẩn cũng không ảnh hưởng nhiều đến uy tín của từng nghị sĩ. Liệu ông Obama có làm được việc này không là một câu hỏi lớn, ít ra là cũng với nội bộ đảng Dân chủ của ông.
TPP mà không có Mỹ liệu có khả thi?
Thật ra TPP vẫn có thể có hiệu lực mà không cần tất cả 12 nước thành viên hoàn tất quá trình phê chuẩn trong từng nước. Nếu trong vòng hai năm, có ít nhất sáu nước thành viên chiếm ít nhất 85% GDP của 12 nước ban đầu ký kết thì hiệp định có hiệu lực 60 ngày sau khi kết thúc thời hạn hai năm. Hiệp định cũng có thể có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày có ít nhất sáu nước thành viên chiếm ít nhất 85% GDP của 12 nước thông báo rằng họ đã phê chuẩn TPP.
Tuy nhiên tính riêng Mỹ đã chiếm đến 62% GDP của cả 12 nước (Nhật chiếm 17%) nên chỉ cần một trong hai nước này không phê chuẩn thì xem như thua. Ngoài ra, lợi ích từ TPP đem lại cho Việt Nam chủ yếu đến từ quan hệ giao thương với Mỹ. Mọi người đều kỳ vọng lớn vào 98% kim ngạch xuất khẩu nông thủy sản và 75% kim ngạch hàng công nghiệp của Việt Nam vào Mỹ được miễn thuế ngay sau khi Hiệp định TPP có hiệu lực. Riêng với dệt may, người ta cũng kỳ vọng đến 95% dòng thuế được bãi bỏ hay giảm mạnh.
Từ đó nhìn lại quá trình chuẩn bị cho TPP mới thấy nổi lên một vấn đề khá lớn. Để hưởng thuế suất ưu đãi của TPP, mặt hàng dệt may sẽ phải đáp ứng quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi”. Thế nên Việt Nam đang hoan nghênh các dự án đầu tư nước ngoài vào ngành dệt nhuộm. Mặc dù có băn khoăn về tác động lên môi trường, sự cần thiết của cụm từ “từ sợi trở đi” có thể phần nào đó tác động lên việc phê duyệt các dự án như thế.
Giả dụ TPP không được Quốc hội Mỹ thông qua, liệu việc phê duyệt các dự án dệt nhuộm gây hại môi trường mà không cân nhắc kỹ có phải là điều khôn ngoan?
Đặt vấn đề này để thấy, cho dù ông Obama có cam kết như thế nào, chính trường Mỹ dù có ra sao, yếu tố môi trường vẫn phải là yếu tố quyết định chứ không phải là sự thúc bách của ai hay của bất kỳ ngành nào.
Theo: Nguyễn Vạn Phú - TBKTSG.
&&&
Các BCAs (Bạn của Alan) nào muốn theo dõi góc nhìn "trực diện" về những lợi, hại và "góc nhìn lạ" về TPP từ Tiến Sĩ Alan Phan thì có thể đọc bài viết có liên quan sau:
http://ift.tt/1MUUFRA

The post OBAMA ĐẾN VIỆT NAM VÀ TPP appeared first on GÓC NHÌN ALAN.


Đăng ký: Viet Blogs
Nguồn tin

Popular Posts

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by VN Bloggers - Blogger Themes