Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

Vốn Nhật đang rời Việt Nam

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Vốn Nhật đang rời Việt Nam


Bắc Nam – Thời Báo Ngân Hàng – 15 Mar 2015


japan-parasol-370x229


Dòng vốn nóng đầu tư từ Nhật Bản dường như đang bớt nhiệt. Bắt đầu từ năm 2014, xu hướng giảm đầu tư của người Nhật ngày càng rõ rệt.


Một công ty chuyên sản xuất linh kiện cao su có trụ sở tại Đồng Nai từ sau Tết Nguyên đán đến nay đang phải cắt giảm lượng công việc. Đại diện DN cho biết, có đến hơn một nửa công nhân nghỉ Tết chưa trở lại làm việc, nhưng dây chuyền sản xuất không bị ảnh hưởng


“Sang năm nay, tổng giá trị đơn hàng nhận được từ các đối tác Nhật Bản đầu tư trong nước chỉ bằng một nửa so với năm ngoái. Nếu năm 2014, nhà máy nhận được 4 đơn hàng thì đầu năm 2015 chỉ sản xuất 2 đơn hàng”, vị đại diện DN cho biết.


Sau khi mối quan hệ hữu nghị được thắt chặt thêm từ những chia sẻ sau thảm họa kép động đất, sóng thần tại Nhật Bản năm 2011, làn sóng đầu tư từ Nhật Bản dâng cao để phân tán rủi ro và sau những hoạt động ngoại giao và xúc tiến đầu tư gia tăng từ phía Việt Nam, dòng vốn nóng đầu tư từ Nhật Bản dường như đang bớt nhiệt. Bắt đầu từ năm 2014, xu hướng giảm đầu tư của người Nhật ngày càng rõ rệt.


Bớt nhiệt tình

Năm 2011, trong một cuộc chuyện trò cuối năm, Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản, ông Đoàn Xuân Hưng, từng cho biết kỳ vọng vào việc kết nối DN hai nước và dự báo việc tham gia của nhà đầu tư Nhật Bản vào công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam, cũng như khả năng hợp tác trên nhiều lĩnh vực giữa hai nước.


Khi đó, chỉ trong vòng nửa cuối năm, hàng tỷ USD vốn đăng ký đầu tư đã được các DN Nhật Bản cam kết rót vào Việt Nam, đưa đối tác này nhảy lên vị trí TOP đầu về vốn đăng ký nhiều nhất trong năm. Sang năm 2013, Nhật Bản đứng vị trí đầu với xấp xỉ 5,9 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký.


Tuy nhiên, tiềm năng ở một thị trường rộng lớn trên 90 triệu dân, có quan hệ đối tác chiến lược, cơ sở giao bang hữu nghị, tin cậy lẫn nhau dường như không còn được các nhà đầu tư Nhật Bản coi trọng như trước. Năm 2014, Nhật Bản chỉ còn duy trì vị trí thứ 4 trong các đối tác đầu tư vào Việt Nam với vốn đăng ký giảm khoảng 61% so với năm trước đó, còn gần 2,3 tỷ USD. Đáng chú ý là lĩnh vực sản xuất giảm cả về số dự án lẫn vốn đầu tư với mức giảm lần lượt là 10% và 15%.


Có thể, nguyên nhân khách quan là đồng Yên mất giá 25% so với USD, chuyện DN Nhật phải tính toán lại kế hoạch đầu tư là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, điều phải suy ngẫm là không phải Nhật Bản rút đầu tư ở tất cả các nước mà chuyển dịch đầu tư từ Việt Nam qua các nước khác.


Theo ông Yasuzumi Hirotaka, Giám đốc điều hành Văn phòng đại diện Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TP. Hồ Chí Minh, thời gian qua đã có khá nhiều DN Nhật rút khỏi thị trường Việt Nam và tìm đến những thị trường khác như Myanmar, Philippines, Thái Lan, Indonesia, thậm chí là Campuchia…


Điểm mấu chốt buộc các DN Nhật Bản phải xem xét lại chiến lược đầu tư tại Việt Nam do lợi nhuận thu được trong năm 2014 giảm thấp so với các nước khác. Cụ thể, năm 2014 có 62% số DN Nhật đang đầu tư tại Việt Nam xác nhận có lợi nhuận, nhưng số vốn đầu tư bổ sung của Nhật tại Việt Nam lại giảm 81% so với năm trước.


Cũng trong năm 2014, chỉ có các công ty Nhật trong lĩnh vực gia công xuất khẩu có lợi nhuận cao (khoảng 70%), còn khi những DN không nằm trong nhóm này lại thua lỗ đến 56%. Trong khi đó, theo một số DN Nhật Bản tại Khu công nghiệp Amatar chia sẻ, mức lợi nhuận của DN Nhật đầu tư tại các nước khác trong khu vực như Philippines, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc lại cao hơn Việt Nam.


Lũy kế cho đến tháng 2 năm nay, Nhật Bản vẫn là nhà đầu tư lớn thứ hai của Việt Nam, xét theo giá trị cam kết đầu tư. Chính vì thế, việc môi trường kinh doanh của Việt Nam kém cạnh tranh hơn so với các đối thủ trong khu vực, trong mắt người Nhật, đặt ra nhiều điều. Nó đồng thời là biểu hiện sự đi xuống của môi trường kinh doanh và cảnh báo về sự sụt giảm dòng vốn quan trọng đối với tăng trưởng của nền kinh tế.


Nội lực và chính sách là rào cản


Trên thực tế, những khó khăn về chính sách, thủ tục tại Việt Nam có góp phần rất lớn vào việc suy thoái đầu tư hay không là điều mà nhiều DN cần biết. Ông Hirotaka thừa nhận, tính đến thời điểm này, các DN Nhật giảm đầu tư sản xuất tại Việt Nam chung quy vì thủ tục nhiêu khê.


Chẳng hạn, trong khi đa số DN ngành công nghiệp phụ trợ Nhật Bản có quy mô nhỏ, theo làn sóng giảm thiểu rủi ro từ sau thảm họa kép muốn đầu tư ra nước ngoài. Một số DN có ý định chuyển toàn bộ thiết bị máy móc từ nhà máy cũ sang Việt Nam, nhưng lại vướng phải quy định cấm nhập khẩu máy móc cũ. Do đó, một số dự án đầu tư đã bị chững lại.


Với các DN lớn, quy mô đa quốc gia đến từ Nhật Bản, khi đầu tư vào ngành sản xuất, họ cần nhiều hỗ trợ về nguồn cung ứng nguyên vật liệu cũng như chính sách ưu đãi từ các chính phủ. Tuy nhiên, ở Việt Nam, họ đã không tận dụng được điều này. Có thể thấy, tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam là 14,4% trong khi Trung Quốc là 38,2%, Thái Lan 23,2%.


Luật sư Manfred Otto (Văn phòng Duane Morris) trong một lần tới Việt Nam để kết nối giao thương cho biết, trong năm 2014 có khoảng 100 DNNVV của Nhật Bản tìm kiếm đối tác tại Việt Nam. Các DN này phần lớn kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất kim loại và nhựa.


Yêu cầu mà các DN Nhật đặt ra là các DN có kỷ luật trong quy trình sản xuất, chất lượng các sản phẩm đồng đều với tỷ lệ trên 60% nhằm giảm chi phí đầu tư. Điều này đòi hỏi ngành công nghiệp phụ trợ trong nước phải tập trung và nâng cao chất lượng hơn nữa.


Dù đầu tư rất mạnh vào lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam, song ông Masaaki, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Bridgestone của Nhật Bản chia sẻ rằng hầu hết DN Nhật vẫn chưa xin được chính sách ưu đãi cho DNNVV. Hiện tại, mới chỉ có một DN Nhật là Kyocera tận dụng được chính sách hỗ trợ về công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam, nhưng công ty này không chuyên về công nghiệp hỗ trợ mà là về lắp ráp.


Tương tự, luật sư Manfred Otto chia sẻ rằng, luật kinh doanh chưa quản được hết hoạt động của DN Việt Nam. Trong đó, kế toán cũng là vấn đề các DN Nhật luôn thận trọng vì hiện tượng một DN Việt có nhiều sổ kế toán cũng khá phổ biến. Một khó khăn khác đặt ra trong quá trình hợp tác với DN Việt, các DN Nhật gặp trở ngại chính từ việc không tìm được nhân sự đủ chất lượng để chuyển giao kỹ thuật…


Để giữ được nguồn vốn đầu tư từ Nhật Bản, chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cho rằng, Việt Nam cần có sự cải thiện rất căn bản về môi trường đầu tư, những điều chỉnh về luật đầu tư, luật DN cũng như giảm thuế, giảm lãi suất và rất nhiều yếu tố giúp giảm chi phí cho các DN đầu tư.


Ngoài ra, xu hướng sắp tới sẽ hướng đến chuyển giao công nghệ nguồn, sản xuất ở chuỗi giá trị cao hơn, nâng cao công tác quản lý… để áp dụng vào thực tế, tăng nội lực cho nền DN Việt Nam trong mắt NĐT Nhật.


Nhiều DN cũng kỳ vọng Chính phủ nên nỗ lực cải cách thể chế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sẽ là nền tảng duy trì sự ổn định và tăng trưởng của dòng vốn FDI trong năm 2015.



The post Vốn Nhật đang rời Việt Nam appeared first on GÓC NHÌN ALAN.




Đăng ký: Viet Blogs

Nguồn tin

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2015

Dấu Hiệu Bất Thường Của Nền Kinh Tế?

Nguồn tin: Góc nhìn Alan

Tăng tín dụng bất thường đối phó giảm phát?


Nam Nguyên – RFA – 14 Mar 2015


deflation


Chính phủ Việt Nam cố gắng trấn an người dân là nền kinh tế không có dấu hiệu giảm phát, mặc dầu chỉ số giá tiêu dùng CPI giảm 4 tháng liên tiếp và đặc biệt lần đầu tiên sau 10 năm tháng Tết có chỉ số giá âm.


Theo Vietnam Net giá tiêu dùng tháng 2/2015 có chỉ số âm 0,05% ngược với bình thường tháng tết giá cả luôn luôn tăng mạnh. Ngoài ra 3 tháng trước đó chỉ số giá tiêu dùng liên tục âm hơn 0,2% mỗi tháng.


Nhận định về tình trạng vừa nêu, Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế từ Hà Nội nhận định:


“Nó biểu hiện rất nhiều vấn đề, thứ nhất sản xuất chưa thực sự khởi sắc, doanh nghiệp còn khó khăn cho nên thu nhập của người lao động còn thấp; chính vì vậy sức mua còn hạn chế. Thứ hai là qua việc sản xuất còn khó khăn, hàng tồn kho còn nhiều cho nên các doanh nghiệp phải hạ giá.


Việc giảm giá vừa qua thực chất không phải do năng suất, do chất lượng mà do nhiều nguyên nhân khác, không phải do tăng trưởng phát triển của nền kinh tế. Cho nên họp Chính phủ vừa qua thì đã bàn xem có phải là giảm phát hay không? Thực chất thì chưa phải giảm phát, nhưng nó biểu hiện một nền sản xuất chưa thực sự khởi sắc mà còn biểu hiện sự trì trệ của nó và nếu nó kéo dài thì chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng, nó là biểu hiện không tốt của nền kinh tế.”


Theo báo chí chính thức như Vietnam Net đưa tin, tại phiên họp Chính phủ ngày 2/3 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh khẳng định, CPI giảm liên tiếp không phải là hiện tượng giảm phát của nền kinh tế, mà nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng, dầu, giá ga trong nước giảm mạnh theo giá thế giới. Bộ trưởng Bùi Quang Vinh cho rằng giá xăng dầu giảm đã tác động làm giảm chỉ số các nhóm hàng giao thông, nhà ở và vật liệu xây dựng. Ông Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư nhấn mạnh, giảm phát của nền kinh tế được phản ánh qua hiện tượng cung vượt cầu, dẫn tới suy giảm sản xuất trong nước. Tuy nhiên theo lời ông, tình hình sản xuất trong nước hai tháng đầu năm vẫn phát triển tốt, sức mua thể hiện qua tổng mức bán lẻ tăng cao.


Trao đổi với chúng tôi, Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa phó Hiệu trưởng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội không đồng thuận với quan điểm lạc quan của Chính phủ: “Tôi cho đó là không tốt bởi vì thực sự nó đã tiến tới tình trạng giảm phát rõ ràng…Cần xem lại và có sự kích cầu đúng mức. Giá dầu chỉ là một phần thôi chứ không phải tất cả mọi người ai cũng ăn vào giá dầu. Cần xem lại nông nghiệp sản xuất thế nào, công nghiệp phát triển đến mức độ nào, chỉ nhìn một phía là hơi chủ quan. Bởi vì thực sự đời sống của dân cư có lên không, tình hình thu nhập của người dân như thế nào? chứ không chỉ nhìn vào giá cả… bán rau không có người mua, thịt thì hiếm người mua…chúng ta cho rằng như vậy là lạm phát giảm thế là tốt, cái đó không phải vậy…Một loạt các tỉnh biên giới vừa rồi chính phủ vẫn phải trợ cấp bao nhiêu gạo thóc lên trên đó…”


Giảm phát được hiểu là tình trạng giá cả nói chung trên thị trường bị giảm xuống liên tục. Nói cách khác giảm phát là lạm phát với tỷ lệ mang giá trị âm. Thông thường tình trạng giảm phát xuất hiện khi kinh tế suy thoái hay đình đốn và tổng cầu giảm.


Theo tài liệu Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright TP.HCM được báo điện tử Saigon Times đưa lên mạng, giảm phát có hai loại tốt và xấu. Theo đó giảm phát tốt chỉ xảy ra trong thị trường tự do, năng suất cao làm giá thành hạ, khuyến khích người tiêu dùng mua nhiều hơn và kết quả là thành sản phẩm càng giảm hơn…hoặc do cạnh tranh những sản phẩm độc quyền bị đẩy giá lên cao phải chấp nhận giảm giá.


Tín dụng tăng bất thường


Vẫn theo tài liệu của Saigon Times “giảm phát không tốt xảy ra khi giá giảm nhưng số hàng bán không tăng. Các công ty phải giảm quy mô sản xuất và thải bớt nhân công. Trước nguy cơ mất việc, mọi người sẽ tiết kiệm nhiều hơn và chi tiêu ít hơn, kết quả là giảm phát trở nên trầm trọngChính phủ Việt Nam không nhìn nhận tình trạng giảm phát hoặc nguy cơ giảm phát và đưa ra những số liệu màu hồng về sức mua và tổng mức bán lẻ tăng cao. Tuy vậy theo các chuyên gia kinh tế, khi một quốc gia có dấu hiệu giảm phát xấu, chính phủ thường đối phó bằng chính sách nới lỏng tiền tệ, như tăng cung tiền, giảm thuế hay điều chỉnh lãi suất.


“Lạm phát 3%-4% với một chính sách tiền tệ tương đối mở rộng hơn một chút thì có cơ sở cho nền kinh tế có thể phần nào phục hồi, dù rất là mong manh. Nền kinh tế Việt nam không có một mảng nào có sức bùng lên, chỉ có đầu tư nước ngoài vào là chính còn đầu tư trong nước chưa thấy có triển vọng gì mà phục hồi, trong khi hàng trăm nghìn doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn, vì không đủ vốn tự có, không đủ vốn đi vay mà vay với lãi suất từ 10% trở lên thì doanh nghiệp cũng không thể nào phát triển được. Nói chung nền kinh tế Việt Nam chưa ra khỏi tình trạng bế tắc.”


Phải chăng là một sự trùng hợp đáng chú ý, khi báo chí nhà nước đưa tin tín dụng tăng vọt bất thường ngay đầu năm. Báo Đầu Tư ngày 9/3 trích lời TS Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương lý giải, sở dĩ tín dụng tăng trưởng dương ngay từ tháng 2/2015 vì doanh nghiệp đang kỳ vọng vào sự phục hồi kinh tế. Mặt khác, Tết năm nay rơi vào tháng 2 Dương lịch nên nhu cầu vay vốn cũng tăng mạnh.


Báo Đất Việt điện tử bản tin trên mạng ngày 9/3/2015 có bài “Tín dụng tăng bất ngờ: Nghịch dị doanh nghiệp phá sản tăng.” Tờ báo ghi nhận tình trạng khác thường, vì theo thông lệ những tháng đầu năm tín dụng thường tăng trưởng âm, giảm mạnh. Nhưng tháng 2/2015 theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tín dụng của cả nền kinh tế tăng 0,96%. Trong khi đó tình hình các doanh nghiệp phá sản, giải thể, ngừng hoạt động vẫn đáng lo ngại. Theo Tổng cục Thống kê, trong hai tháng đầu năm 2015 có hơn 16.000 doanh nghiệp phải đăng ký giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động vì kinh doanh khó khăn. Cụ thể trong 2 tháng, cả nước có 2.055 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Đồng thời có 14.040 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động, tăng 25% so với cùng kỳ.









Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh mà báo Đất Việt gọi là dị nghịch như thế thì dòng tín dụng tăng ngay đầu năm đang chảy vào đâu. Theo báo Đầu Tư, các chuyên gia cảnh báo, tín dụng tăng vọt trở lại sẽ đẩy hệ thống ngân hàng thương mại vào nhiều rủi ro. Trong đó, rủi ro lớn nhất của việc sống dựa vào quá nhiều tín dụng là nợ xấu. Bên cạnh đó, không loại trừ một số ngân hàng “kích” tín dụng ảo để “che” nợ xấu.


Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long nhận định về hiện tương tăng tín dụng bất thường:


“Tín dụng là hoạt động mạch máu lưu thông trong nền kinh tế cho nến nó có tác dụng rất lớn. Hiện nay nguồn vốn trong lãnh vực sản xuất thì thị trường chứng khoán Việt Nam rất èo uột, cho nên nguồn vốn chủ yếu từ ngân hàng mà quan trọng là tăng trưởng tín dụng. Trong năm nay mục tiêu người ta đề ra là tăng trưởng tín dụng từ 13%-15%.


Nếu tình hình kéo dài như thế này thì tăng trưởng tín dụng, nhưng chất lượng tín dụng và khả năng hấp thu của các doanh nghiệp như thế nào và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có tốt hay không? cái đó mới là cái quyết định hiệu quả của nền sản xuất, sự quyết định này mới là nhân tố quan trọng của nền kinh tế. Không thể trông vào tăng trưởng tín dụng mà phải xem xét chất lượng, hiệu quả của nó thì mới đánh giá được nền kinh tế có tốt hay không.”


Nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi như quan điểm của Chính phủ hay đang rơi vào giảm phát và có dấu hiện chính phủ đang tìm cách đối phó. Đây là vấn đề cần được các chuyên gia đánh giá đầy đủ với các số liệu cập nhật trong thời gian tới.


The post Dấu Hiệu Bất Thường Của Nền Kinh Tế? appeared first on GÓC NHÌN ALAN.




Đăng ký: Viet Blogs

Nguồn tin

Nguồn Tin Mới